Theo khoản 3 Điều 35 Thông tư 200/2014/TT-BTC khoản 1 Điều 31 Thông tư 113/2016/TT-BTC quy định:

“Trường hợp thanh lý tài sản cố định: TSCĐ thanh lý là những TSCĐ hư hỏng không thể tiếp tục sử dụng được những TSCĐ lạc hậu về kỹ thuật hoặc không phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh

-Khi có tài sản cố định thanh lý: Doanh nghiệp phải ra quyết định thanh lý, thành lập hội đồng thanh lý TSCĐ

Hội đồng thanh lý TSCĐ có nhiệm vụ thanh lý TSCĐ theo đúng trình tự, thủ tục quy định trong chế độ quản lý tài chính và lập “Biên bản thanh lý TSCĐ” theo mẫu quy định.

Biên bản được lập thành 2 bản, một bản được chuyển cho phòng kế toán theo dõi ghi sổ, 1 bản được giao cho bộ phận quản lý TSCĐ”

Theo khoản 1 Điều 38 Thông tư 300/2014/TT-BTCkhoản 1 Điều 2 Thông tư 133/2016/TT-BTC quy định:

Đối với các tài sản cố định đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thì không được tiếp tục trích khấu hao

Các TSCĐ chưa tính đủ khấu hao mà đã hư hỏng cần thanh lý thì phải xác định nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân để xử lý bồi thường và phần giá trị của TSCĐ chưa thu hồi, không được bồi thường phải được bồi đắp bằng số thu do thanh lý của chính TSCĐ đó, số tiền bồi thường do lãnh đạo doanh nghiệp quyết định

Nếu số thu thanh lý và số thu bồi thường không đủ bù đắp phần giá trị còn lại của TSCĐ chưa thu hồi, hoặc giá trị TSCĐ bị mất thì chênh lệch còn lại được coi là lỗ về thanh lý TSCĐ và kế toán vào chi phí khác.